I.
TỔNG QUAN VỀ
DNS VÀ DNSSEC
DNS là chữ viết tắt của Domain Name Server, là hệ thống phân
giải tên miền trên Internet. Khi người dùng Internet gõ một địa
chỉ Web lên trình duyệt, thì nó sẽ truy cập đến một máy chủ để tìm địa chỉ IP
tương ứng với địa chỉ Web.
DNSSEC là công nghệ an toàn mở rộng cho hệ thống DNS. Trong
đó DNSSEC sẽ cung cấp một cơ chế xác thực giữa các máy chủ DNS với nhau và xác
thực cho từng zone dữ liệu để đảm bảo toàn vẹn dữ liệu.
II. TẠI SAO CẦN DÙNG ĐẾN DNSSEC
Trong khi giao thức DNS thông thường
không có công cụ để xác thực nguồn dữ liệu. Điều đó tạo ra nguy cơ dữ liệu DNS
bị giả mạo và bị làm sai lệch trong các tương tác giữa máy chủ DNS với các máy
trạm (resolver) hoặc máy chủ chuyển tiếp (forwarder),
Để giải quyết vấn đề đó, công
nghệ bảo mật mới DNSSEC đã được nghiên cứu, triển khai áp dụng để hỗ trợ cho
DNS bảo vệ chống lại các nguy cơ giả mạo làm sai lệch nguồn dữ liệu. Trong đó,
DNSSEC sẽ cung cấp một cơ chế xác thực giữa các máy chủ DNS với nhau và xác
thực cho từng zone dữ liệu để đảm bảo toàn vẹn dữ liệu.
III.
CÁC LOẠI BẢN GHI CỦA DNSSEC
- Bản ghi khóa công cộng DNS (DNSKEY - DNS Public Key): sử dụng để chứng thực zone dữ liệu.
- Bản ghi chữ ký tài nguyên (RRSIG - Resource Record Signature): sử dụng để chứng thực cho các bản ghi tài nguyên trong zone dữ liệu.
- Bản ghi bảo mật kế tiếp (NSEC - Next Secure): sử dụng trong quá trình xác thực đối với các bản ghi có cùng sở hữu tập các bản ghi tài nguyên hoặc bản ghi CNAME. Kết hợp với bản ghi RRSIG để xác thực cho zone dữ liệu.
- Bản ghi ký ủy quyền (DS - Delegation Signer): thiết lập chứng thực giữa các zone dữ liệu, sử dụng trong việc ký xác thực trong quá trình chuyển giao DNS.
Mục tiêu
đặt ra là DNSSEC không làm thay đổi tiến trình truyền dữ liệu DNS và quá trình
chuyển giao từ các DNS cấp cao xuống các DNS cấp thấp hơn, mặt khác đối với các
máy trạm (resolver) cần yêu cầu đáp ứng hỗ trợ các cơ chế mở rộng này. Một zone
dữ liệu được ký xác thực sẽ chứa đựng một trong các bản ghi RRSIG, DNSKEY, NSEC
và DS.
IV. ỨNG DỤNG DNSSEC ĐỂ BẢO MẬT CHO HỆ THỐNG DNS
Các bản
ghi trong DNSSEC được khai báo trong các zone dữ liệu để chứng thực thông tin
trong zone dữ liệu đó, đảm bảo độ tin cậy trong quá trình trao đổi thông tin
cũng như truy vấn tìm kiếm DNS. Trong khi vẫn đảm bảo hoạt động bình thường của
các bản ghi tài nguyên DNS thông thường thì các bản ghi DNSSEC cần khai báo
chính xác và thông tin xác thực phải đồng bộ.
V.
KÝ ZONE TRONG DNSSEC
Một zone
được ký bao gồm khóa công cộng DNS (DNS Public Key): Chữ ký bản ghi tài nguyên (RRSIG); Bảo mật tiếp theo (NSEC); Ký chuyển giao (Delegation
Signer).
Một zone
mà không thêm những bản ghi này vào là một zone chưa được ký. Đồng thời
DNSSEC đòi hỏi thay đổi định nghĩa của bản ghi tài nguyên CNAME bằng 2 bản
ghi chứng thực là bản ghi RRSIG và bản ghi NSEC.
VI.
CÁCH THÊM BẢN GHI VÀO MỘT ZONE
- Bản ghi DNSKEY
Để ký một zone, người quản trị zone sẽ tạo một hay nhiều cặp khóa công cộng/dành riêng (public/private), cặp khóa công cộng dùng cho zone chính và khóa riêng để ký cho những bản ghi cần xác thực trong zone. Mỗi zone phải thêm một bản ghi DNSKEY (zone DNSKEY RR) chứa đựng khóa công cộng tương ứng, và mỗi khóa riêng được dùng để tạo bản ghi RRSIG trong zone.
Bản ghi chứng thực DNSKEY cho zone phải có bit Zone Key của trường dữ liệu cờ đặt giá trị là 1. Nếu quản trị zone có ý định ký một zone để chứng thực thì zone chính phải chứa đựng ít nhất một bản ghi DNSKEY để hoạt động như một điểm bảo mật ở trong zone. Điểm bảo mật được dùng cùng với bản ghi DS tương ứng ở zone cha trong hoạt động chuyển giao DNS.
- Bản ghi RRSIG
Với một zone đã được ký bởi bản ghi DNSKEY, thì các bản ghi tài nguyên trong zone đó cần có một bản ghi RRSIG ký xác thực. Một bản ghi tài nguyên có thể có nhiều bản ghi RRSIG kết hợp với nó. Các bản ghi RRSIG chứa chữ ký điện tử kết hợp chặt chẽ với các bản ghi tài nguyên để xác thực cho các bản ghi tài nguyên đó. Đặc biệt, giá trị TTL trong các bản ghi RRSIG với một tên miền sở hữu không giống với giá trị TTL của bản ghi tài nguyên.
Trong trường hợp các bản ghi tài nguyên cùng sở hữu một tên miền thì cần kết hợp bản ghi RRSIG với bản ghi NSEC để xác thực, trường hợp này cũng tương tự đối với bản ghi CNAME.
Tập bản ghi tài nguyên NS trong zone phải được ký xác thực, khi bản ghi NS là bản ghi chuyển giao từ máy chủ tên miền cha xuống máy chủ tên miền con thì cần kết hợp bản ghi RRSIG với bản ghi xác thực DS. Bản ghi glue cũng cần xác thực bằng RRSIG.
- Bản ghi NSEC
Mỗi tên
miền sở hữu nhiều hơn 1 bản ghi tài nguyên cùng loại trong một zone hoặc một
tập bản ghi NS chuyển
giao thì phải có một bản ghi NSEC để xác thực. Trong đó, giá trị TTL nhỏ nhất cho một
bản ghi NSEC phải bằng với giá trị TTL trong bản ghi SOA của zone đó.
Một bản
ghi NSEC và bản ghi RRSIG kết hợp với nó không nhất thiết là bản ghi duy nhất
cho bất cứ tên miền sở hữu bản ghi bảo mật nào. Vì thế, qui trình ký không phải
tạo bất cứ bản ghi RRSIG hoặc NSEC nào cho những tên miền sở hữu bản ghi mà
không sở hữu bất cứ tập bản ghi nào trước khi vùng được ký. Lý do chính là muốn
ổn định giữa không gian đã ký và không gian chưa ký của một zone và mong giảm
rủi ro đối với những mâu thuẫn trong phản hồi những máy chủ truy vấn đệ qui
không được cấu hình bảo mật.
Các bản ghi RRSIG hiện
diện tại tên miền sở hữu các tập bản ghi mà nó nắm giữ. Các bản ghi NSEC hiện
diện tại tên miền sở hữu và còn hiện diện tại điểm chuyển giao của các tên miền
con của chúng. Vì thế, bất cứ tên miền nào có một tập bản ghi NSEC sẽ
có các bản ghi RRSIG trong vùng được ký.
- Bản ghi DS
Bản ghi DS thiết lập chứng thực giữa những zone DNS. Một bản ghi DS được biểu diễn cho bản
ghi chuyển giao khi vùng con được ký. Bản ghi DS kết hợp với bản ghi RRSIG để chứng thực cho zone được chuyển
giao tại máy chủ tên miền cha. Bản ghi DS được khai báo trước , và bản ghi RRSIG khai báo sau giống
như khai báo để xác thực cho một bản ghi tài nguyên thông thường.
Trường TTL của tập bản ghi DS phải ứng với trường TTL của tập bản ghi NS ủy quyền (có nghĩa là tập bản ghi NS trong cùng vùng chứa
tập bản ghi DS).
Việc xây dựng một bản ghi DS
đòi hỏi phải có hiểu biết của bản ghi DNSKEY tương ứng trong vùng con để đưa ra được các
giao tiếp giữa vùng con và vùng cha.
- Thay đổi với bản ghi CNAME
Nếu một tập bản ghi CNAME hiện diện tại một
tên miền trong một vùng được ký, sẽ thay thế bằng tập bản ghi RRSIG và NSEC tương ứng trong tên
miền đó. Đây là một phiên bản đã được chỉnh sửa của định nghĩa CNAME nguyên gốc. Định
nghĩa nguyên gốc của bản ghi CNAME
không cho phép bất cứ kiểu nào khác cùng tồn tại với bản ghi CNAME, nhưng một vùng
được ký đòi hỏi những bản ghi NSEC và bản ghi RRSIG cho mọi tên miền. Để giải quyết xung đột này, định nghĩa
của bản ghi CNAME
của hệ thống DNS đã
được chỉnh sửa lại để cho phép nó cùng tồn tại với các bản ghi NSEC và bản ghi RRSIG.
DNSKEY được thiết lập để tạo
khóa công cộng nhằm thực hiện xác thực với các máy chủ DNS khác có cùng khóa công cộng này. Các
bản ghi chứng thực RRSIG
sử dụng để ký xác thực cho các bản ghi tài nguyên SOA, A, MX… Đối với các bản ghi NS khai báo quyền sở hữu
tên miền đối với tên miền gốc thì sử dụng bản ghi NSEC kết hợp với bản ghi RRSIG để xác thực. Đối với các bản ghi
chuyển giao từ DNS
cha xuống các máy chủ tên miền DNS con thì kết hợp với bản ghi DS với bản ghi RRSIG để xác thực.
VII. THÔNG TIN TRIỂN KHAI DNSSEC
Quá
trình triển khai DNSSEC bao gồm: ký chuyển giao tên miền .VN từ DNS Root về máy
chủ DNS quốc gia quản lý. Tiếp theo, ký chuyển giao tên miền từ máy chủ DNS
quốc gia cho các đơn vị khác quản lý.
Việc
triển khai DNSSEC trên hệ thống DNS quốc gia gồm các bước như sau:
Trên máy
chủ DNS:
- BƯỚC
1: Tạo cặp khóa riêng và khóa công khai
- BƯỚC
2: Lưu trữ bảo mật khóa riêng
- BƯỚC
3: Phân phối khóa công khai
- BƯỚC
4: Ký zone
- BƯỚC
5: Thay đổi khóa
- BƯỚC
6: Ký lại zone
Trên
resolver:
- BƯỚC
7: Cấu hình Trust Anchors
- BƯỚC
8: Thiết lập chuỗi tin cậy và xác thực chữ ký
VIII. LỘ TRÌNH TRIỂN KHAI DNSSEC TẠI VIỆT NAM
Ngày
23/10/2014, theo Quyết
định phê duyệt của Bộ Thông tin và Truyền thông về Đề án triển khai tiêu chuẩn DNSSEC cho hệ thống máy
chủ tên miền (DNS) “.VN”, trong việc triển khai DNSSEC được chia làm 3 giai
đoạn như sau:
Giai đoạn chuẩn bị (2015): Xây dựng kế hoạch, chuẩn bị
truyền thông, nhân lực, kỹ thuật, tài chính,… để triển khai tại các cơ quan, tổ
chức, doanh nghiệp.
Giai đoạn khởi động (2016): Chính thức triển khai tiêu chuẩn DNSSEC
trên hệ thống DNS quốc gia. Cùng với đó là tiến hành xây dựng, nâng cấp hệ
thống DNS tại các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ internet, nhà đăng ký tên miền
.vn và các các cơ quan, tổ chức nhà nước để kết nối thử nghiệm DNSSEC.
Giai đoạn triển khai (2017): Hoàn thiện và nâng cấp hệ thống DNS quốc gia, hệ thống quản lý tên miền quốc gia để đảm bảo đạt đủ độ tin cậy, an toàn theo tiêu chuẩn DNSSEC.
Đồng thời, tiến hành chính thức triển khai hệ thống
DNS theo tiêu chuẩn DNSSEC tại các doanh nghiệp cung cấp internet, đăng ký tên
miền .vn.
Cuối cùng, bắt đầu cung cấp dịch vụ cho phép sử dụng, truy vấn tên miền .vn theo tiêu chuẩn DNSSEC cho tất cả người dùng tại Việt
Nam.


Nhận xét
Đăng nhận xét