1. DNS là gì?
DNS (Domain Name System) là Hệ thống phân giải tên miền, được phát minh năm 1984 cho
Internet, chỉ một hệ thống cho phép thiết lập tương ứng giữa địa chỉ IP và tên
miền. Hiểu đơn giản, DNS như là một cuốn sổ
danh bạ, trong đó bao gồm tên
liên lạc (tên miền), số điện thoại (địa chỉ IP, gồm một dãy chữ số).
2. Chức năng của DNS
Mỗi Website đều có một tên (tên miền hay còn
được gọi là URL) và một địa chỉ IP.
Khi mở một trình duyệt Web và
nhập tên website, trình duyệt sẽ đến thẳng website mà không cần phải thông qua
việc nhập địa chỉ IP của trang web.
Địa chỉ
IP là những con số khó nhớ. Các hệ thống trên máy tính chỉ nhận biết các con số.
DNS giống như một cái máy phiên dịch giữa người dùng (tên miền) và các trình
duyệt web (mã số IP), khi mình nhập tên miền vào trình duyệt web thì DNS sẽ
phiên dịch thành mã số IP, trong trường hợp ngược lại mã số IP sẽ được DNS
chuyển đổi thành các tên miền để người dùng nhận biết. Đó là lý do mà DNS
thường được xem như danh bạ internet.
3. Nguyên tắc làm việc của DNS
Mỗi nhà cung cấp dịch vụ vận
hành và duy trì DNS server riêng của mình, gồm các máy bên trong phần riêng của
mỗi nhà cung cấp dịch vụ đó trong Internet. Nếu một trình duyệt tìm kiếm địa
chỉ của một website thì DNS server phân giải tên website này phải là DNS server
của chính tổ chức quản lý website đó chứ không phải là của một tổ chức (nhà
cung cấp dịch vụ) nào khác.
INTERNIC (Internet Network
Information Center) chịu trách nhiệm theo dõi các tên miền và các DNS server
tương ứng. INTERNIC là một tổ chức được thành lập bởi NSF, AT&T và Network
Solution, chịu trách nhiệm đăng ký các tên miền của Internet. INTERNIC có nhiệm
vụ quản lý tất cả các DNS server trên Internet, không phải thực hiện phân giải
tên cho từng địa chỉ.
DNS có khả năng truy vấn các DNS
server khác để có được một cái tên đã được phân giải. DNS server của mỗi tên
miền thường có hai việc khác biệt. Thứ nhất, chịu trách nhiệm phân giải tên từ
các máy bên trong miền về các địa chỉ Internet, cả bên trong lẫn bên ngoài miền
nó quản lý. Thứ hai, chúng trả lời các DNS server bên ngoài đang cố gắng phân
giải những cái tên bên trong miền nó quản lý.
DNS server có khả năng ghi nhớ
lại những tên vừa phân giải. Để dùng cho những yêu cầu phân giải lần sau. Số
lượng những tên phân giải được lưu lại tùy thuộc vào quy mô của từng DNS.
4. Cách sử dụng DNS
Do các DNS có tốc độ biên dịch khác nhau, có thể nhanh hoặc có thể chậm, do đó người sử dụng có thể chọn DNS server để sử dụng cho riêng mình. Có các cách chọn lựa cho người sử dụng. Sử dụng DNS mặc định của nhà cung cấp dịch vụ (Internet), trường hợp này người sử dụng không cần điền địa chỉ DNS vào network connections trong máy của mình. Sử dụng DNS server khác (miễn phí hoặc trả phí) thì phải điền địa chỉ DNS server vào network connections. Địa chỉ DNS server cũng là 4 nhóm số cách nhau bởi các dấu chấm.


Nhận xét
Đăng nhận xét